Thứ 205302016

Email: bbt.tuyentruyen@dongthap.gov.vn

Quay về Bạn đang ở trang: Home Phòng chống Ma tuý

Ma túy

Loại ma túy tự chế, ăn ruỗng thịt con nghiện

Ma tuy an thit

Ảnh minh họa (Nguồn internet).

Krokodil, một loại ma túy tự chế mà nhiều con nghiện ở Nga đang sử dụng mạnh gấp 10 lần heroin. Nhưng sức tàn phá của nó cũng vô cùng khủng khiếp, da trở nên tím tái, xếp vảy như da cá sấu rồi hoại tử dần đến khi lộ cả xương.

Oleg lén lút nhìn xung quanh để chắc rằng không bị ai theo dõi, sau đó lẻn vào một con hẻm nhỏ dẫn lên một tòa nhà bỏ hoang đã mục nát, nơi đó Sasha đang đợi anh. Thu mình trong căn bếp bẩn thỉu của một trong những căn hộ, họ đổ tất cả những thứ bên trong chiếc túi màu xanh mà Oleg mang bên mình gồm: thuốc giảm đau, iốt, ống tiêm, dầu công nghiệp... và bắt đầu tự tạo ma túy.

Sau hơn nửa giờ đồng hồ đun sôi, chưng cất, pha trộn và lắc, những gì còn lại là một chất lỏng màu caramel. Và cả hai đã dùng ống tiêm tiêm thẳng nó vào da thịt.

Theo The Independent, Nga là đất nước có số người nghiện heroin nhiều hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới, lên đến 2 triệu theo một đánh giá không chính thức. Những nỗ lực ngăn chặn nguồn cung cấp ma túy từ Afghanistan thành công khiến giá thuốc tăng và nhiều con nghiện không có đủ tiền để mua thuốc. Đó cũng là lúc một bóng ma khác còn đáng sợ hơn nữa xuất hiện đe dọa đất nước này.

Loại ma túy tự chế mà Oleg và Sasha trích được biết đến với tên gọi krokodil hay "crocodile" (cá sấu). Nó là desomorphine, một loại thuốc phiện mạnh hơn heroin rất nhiều lần. Việc pha chế đơn giản, giá thành lại rẻ hơn rất nhiều.

Trong khi giá mỗi liều heroin dao động từ 20 đến 60 đô Mỹ thì desomorphine có thể tự chế từ codeine, thành phần trong thuốc đau đầu, giá chỉ có 2 đô mỗi gói.

Nó là loại ma túy dành cho những con nghiện nghèo, thế nhưng những hậu quả mà nó để lại vô cùng khủng khiếp. Nó được đặt theo tên gần giống một loài bò sát vì những thành phần độc hại của nó khiến da xếp vảy không khác gì da cá sấu.

Oleg và Sasha chưa sử dụng loại thuốc này một thời gian dài nhưng phía sau cổ của Oleg đã bắt đầu có những vùng da bị lở loét. Một trong số những người bạn của họ đang phải hứng chịu những hậu quả nặng nề từ việc sử dụng độc chất này.

"Nó không chịu đến bệnh viện mà tiếp tục chích. Da thịt nó mất dần và giờ nó không thể đi lại được nữa", Sasha nói.

Hình ảnh về những người nghiện krokodil thực sự hãi hùng khi mà vùng da bị chích thuốc xanh lè và hoại tử dần đến mức lộ cả xương. Kết cục dành cho những người này chỉ là cái chết.

Cách đây 4 năm, những con nghiện ở Nga bắt đầu phát hiện ra cách tự chế ma túy krokodil. Gần đây, việc tiêu thụ loại ma túy này ngày càng tăng.

"Trong 5 năm qua, lượng thuốc viên nén có chứa codein được bán ra đã tăng hàng chục lần. Điều đó là quá rõ ràng bởi vì không thể đột nhiên có nhiều người bị đau đầu. Cách đây hai năm, phần lớn những người nghiện ma túy đều dùng heroin, nhưng bây giờ hơn một nửa số này đã chuyển sang dùng loại ma túy kia", Viktor Ivanov, người đứng đầu cơ quan kiểm soát ma túy của Nga cho biết.

Tháng trước một phát ngôn viên của Bộ Y tế nước này từng cho biết, Bộ đang có kế hoạch đưa codein vào danh mục thuốc chỉ được bán khi có đơn của bác sĩ chứ không được bán tự do như hiện nay.

Thu Hường

(Theo VnExpress)

Tăng cường công tác chỉ đạo xóa bỏ cây có chứa chất ma túy năm 2016.

Ngày 28/4/2016, UBND tỉnh Đồng Tháp đã ban hành Công văn số 241/UBND-KTN về việc tăng cường công tác chỉ đạo xóa bỏ cây có chứa chất ma túy năm 2016.

Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Tháp, các sở, ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân về phòng, chống ma túy, tăng cường kiểm tra, phát hiện và xóa bỏ diện tích trồng và tái trồng cây có chứa chất ma túy trên địa bàn tỉnh. Chủ động huy động, lồng ghép nguồn lực từ các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực của ngành quản lý trên địa bàn, tập trung vốn đầu tư hỗ trợ cho các xã, vùng trọng điểm có nguy cơ tái trồng cây có chứa chất ma túy; hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giúp người dân xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống và sản xuất.

Đồng thời, giao Sở Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo, đài địa phương, các đơn vị liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân đặc biệt là các xã vùng sâu, biên giới về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống ma túy và những hậu quả, tác hại của ma túy./.

Ngọc Hân

Hướng dẫn quản lý tài chính trong chương trình điều trị Methadone

Vừa qua, Cục Phòng, chống HIV/AIDS tổ chức Hội thảo hướng dẫn quản lý tài chính trong chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho 31 tỉnh phía Bắc nhằm tăng cường năng lực cho các tỉnh, thành phố huy động nguồn lực cho chương điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone.

Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone được chính thức triển khai thí điểm tại Việt Nam từ tháng 4/2008 tại TP. Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh. Tính đến 31/10/2015,  chương trình đã triển khai tại 55 tỉnh, thành phố với 215 cơ sở, điều trị cho khoảng 39.878 bệnh nhân.

Thuốc Methadone sử dụng cho bệnh nhân tại Việt Nam do Bộ Y tế làm đầu mối nhập khẩu đều do nguồn kinh phí tài trợ từ Chương trình PEPFAR tại Việt Nam và Dự án Quỹ toàn cầu Phòng, chống HIV/AIDS. Tuy nhiên, các nhà tài trợ cũng đã công bố lộ trình cắt giảm kinh phí viện trợ. Do vậy, chương trình sẽ được mở rộng dựa vào kinh phí trong nước và chủ yếu là do các địa phương đảm nhiệm. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các các tỉnh/thành phố triển khai, Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch 38/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính về việc ban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Hiện nay, có 13 tỉnh, thành phố tiến hành thu phí cho các dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone là: TP. Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Điện Biên, Bắc Ninh, Kon Tum, Ninh Bình, Bắc Giang, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Trị.

Tại hội thảo, đại diện các tỉnh, thành phố đã trao đổi khó khăn và vướng mắc cũng như hướng giải quyết trong quá trình thực hiện các văn bản quản lý hiện nay của Chương trình điều trị Methadone, việc thực hiện chỉ tiêu điều trị Methadone theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20/6/2014  của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015 cũng như cách thức xây dựng và sử dụng nguồn thu từ giá dịch vụ điều trị Methadone…

BL (theo Tạp chí Du lịch)

4 trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng chất ma túy

Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17 vừa được ban hành ngày 14/11/2015. Theo đó, quy định 4 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy.

Cụ thể: Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong 4 trường hợp sau:

a, Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

b, Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;

c, Xái thuốc phiện;

d, Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực này thi hành kể từ ngày 30/12/2015.

Như vậy, theo quy định của Thông tư liên tịch số 08 thì: Khi giải quyết các vụ án về ma túy, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Việc bắt buộc trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy chỉ trong 4 trường hợp nêu trên.

Trước đây, trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, đã phát sinh một số vấn đề, gây ra những cách hiểu và áp dụng khác nhau tại các địa phương, trong đó có nội dung 1.4 mục I hướng dẫn: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”. Hướng dẫn này không rõ ràng, dẫn đến cách hiểu không thống nhất và thực tế không phù hợp với quy định tại các Điều 193, 194, 195 của Bộ luật Hình sự. Trong các Điều luật này chỉ quy định trọng lượng làm căn cứ định tội, định khung hình phạt để truy tố, xét xử. Vì vậy, vấn đề giám định hàm lượng chất ma túy gây ra những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện và có nhiều ý kiến đề nghị bỏ quy định giám định hàm lượng các chất thu giữ nghi là chất ma túy, mà chỉ thực hiện việc giám định hàm lượng để tính trọng lượng chất ma túy đối với các chất quy định tại điểm a, b nêu trong phần 1.1 Mục I và tiểu mục 3.5, mục 3, phần II Thông tư liên tịch số 17 (cụ thể gồm: Ma túy pha vào dung dịch; xái thuốc phiện; thuốc có chứa chất gây nghiện).

Thời gian vừa qua, Bộ Công an đã tích cực phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp khẩn trương nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 17. Việc ban hành Thông tư liên tịch số 08 đã tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng các cấp giải quyết hàng nghìn vụ án ma túy  tồn đọng trong cả nước thời gian vừa qua, nhất là ở TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Theo số liệu thống kê tại hai địa phương này còn tồn khoảng 1.000 vụ án ma túy do liên quan đến việc giám định hàm lượng chất ma túy.

NT (theo tiengchuong.vn)

Tập huấn kỹ năng truyền thông phòng, chống ma tuý

Vừa qua, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Tổ chức hoạt động về hợp tác kinh tế và phát triển xã hội trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Colombo Plan) tổ chức hội nghị “Tập huấn kỹ năng phòng, chống ma túy cho các cơ quan báo chí”.

Thời gian qua, truyền thông đã thể hiện vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống ma túy trên lĩnh vực giảm cung, giảm cầu và giảm hại. Trong khi Việt Nam đang thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện thì truyền thông càng trở nên quan trọng với nhiều vấn đề mới về nhận thức cần truyền tải một cách sâu sắc đến các tầng lớp nhân dân như: phân biệt các loại ma túy và tác hại, các yếu tố nguy cơ dẫn đến nghiện ma túy, nhận thức mới về bản chất nghiện ma túy (bệnh rối loạn não bộ), các biện pháp cai nghiện, các yếu tố phòng ngừa lạm dụng ma túy, chống kỳ thị và phân biệt đối xử với người nghiện…

Tiến sỹ Thomas Thaza đã phổ biến, trao đổi với gần 70 phóng viên thuộc các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương về các vấn đề nêu trên và đưa ra các yêu cầu về kỹ năng cơ bản về truyền thông phòng, chống ma túy. Các phóng viên cũng thảo luận nhóm để nêu các kế hoạch, ý tưởng về thực hành truyền thông phòng, chống ma túy: xây dựng các tin bài, các phóng sự theo chủ đề; bám chắc cơ sở để phản ánh tác hại của ma túy; giới thiệu những điển hình vượt qua khó khăn cai nghiện thành công; các mô hình phòng chống ma túy có hiệu quả; làm thế nào để phóng viên tự bảo vệ an toàn khi tác nghiệp tại các khu vực ma túy phức tạp…

BL (theo Tạp chí Du lịch)

Hướng dẫn quy định về tội phạm ma túy

Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật hình sự năm 1999.

Thông tư liên tịch nêu rõ: "chất ma túy" là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Trong đó cần phân biệt các trường hợp: Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính trọng lượng chất ma túy đó.

Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin.

Trưng cầu giám định để xác định loại ma túy

Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

a- Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

b- Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;

c- Xái thuốc phiện;

d- Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.

Ngoài các trường hợp quy định trên, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng luật.

Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy.

Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi... thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.

Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.

Đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, nếu các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT thì được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Đối với các trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án đúng theo Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không áp dụng hướng dẫn của Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2015. Bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 mục 3 Phần II; điểm b tiết 7.3 mục 7 Phần II; mục 8 Phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT.

NT (theo tiengchuong.vn)

Tuổi trẻ TP HCM cung cấp gần 5.900 nguồn tin về hoạt động tội phạm ma túy.

Chiều ngày 17/12, Công an TP Hồ Chí Minh và Thành Đoàn thành phố đã tổ chức tổng kết, tuyên dương khen thưởng các tập thể cá nhân tích cực trong công tác tuyên truyền phòng chống ma túy, tội phạm trong thanh thiếu niên 5 năm trở lại đây.

Thống kê cho thấy, trong 5 năm, đã có gần 15.500 cuộc họp tuyên truyền, cổ động thanh niên tham gia các hoạt động phòng chống tội phạm hình sự, ma túy, tệ nạn xã hội, tham gia giữ gìn an ninh trật tự tại các khu dân cư với sự tham gia của gần 1,2 triệu người. Gần 1.400 cuộc tuyên truyền, giáo dục pháp luật học đường dành cho trên 470.000 người.

100% đoàn viên thanh niên trong tổ chức Đoàn, Hội trên địa bàn thành phố đã tổ chức ký cam kết thi đua thực hiện cuộc vận động “3 không với ma túy”. Đã có trên 1.300 thanh niên được dạy nghề, giới thiệu việc làm và 357 thanh niên được hỗ trợ vốn khoảng 3 tỷ đồng.

Trong 5  năm, đã có 617 đội, nhóm, tổ, Câu lạc bộ thanh niên xung kích phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, tệ nạn ma túy tại cấp phường, xã, thị trấn với 21.540 đoàn viên, thanh niên, cán bộ chiến sỹ công an được thành lập và  hoạt động hiệu quả.

Từ các mô  hình này, đã có gần 5.900 nguồn tin được cung cấp kịp thời cho lực lượng công an, giúp các cơ quan Công an giải quyết 1.948 vụ việc liên quan đến an ninh trật tự, bắt giữ 1.162 đối tượng các loại,  chuyển hóa được nhiều địa bàn, tụ điểm, điểm phức tạp về an ninh trật tự và có tệ nạn ma túy.

Từ những kết quả đạt được, Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh đã trao giấy khen cho 9 tập thể, 9 cán bộ của lực lượng công an và Công an thành phố trao giấy khen cho 9 tập thể, 9 cán bộ Đoàn có nhiều thành tích trong hành động phòng, chống ma túy, tội phạm trong thanh thiếu niên 5 năm qua.

LV (theo tiengchuong.vn)

 

Đồng Tháp: Nghiêm túc thực hiện công tác kiểm soát tiền chất ma túy

Thời gian qua, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp có chiều hướng gia tăng nhưng tính chất mức độ ít phức tạp.

Qua 1 năm thực hiện việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp theo Kế hoạch số 99-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW của Bộ Chính trị, đã đạt được những kết quả nhất định.

Qua triển khai, quán triệt lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống ma túy (PCMT), các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động, phát huy vai trò, trách nhiệm đối với công tác PCMT, góp phần bảo đảm tình hình an ninh trật tự phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Công tác xây dựng xã, phường thị trấn không có ma túy gắn với xây dựng nông thôn mới và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư góp phần phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong công tác PCMT.

Năm 2015, đã thụ lý điều tra 45 vụ, 79 bị can phạm tội về ma túy. Tăng cường quản lý khu vực biên giới Đồng Tháp - Prây-veng, Vương quốc Campuchia, không để đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy có điều kiện hoạt động. Công tác kiểm soát tiền chất trên địa bàn tỉnh được thực hiện nghiêm túc, chưa phát hiện trường hợp vi phạm. Đã mời 1.010 lượt người nghi vấn sử dụng ma túy, phát hiện và xử lý 388 người có sử dụng, số còn lại cho làm cam kết không sử dụng ma túy và vận động 14 người cai nghiện tự nguyện.

Về tình hình người nghiện, so với năm 2014, số người nghiện ma túy giảm 32 người, hiện toàn tỉnh có 531 người nghiện ma túy. Tuy nhiên, người sử dụng ma túy có xu hướng lây lan kéo theo tội phạm ma túy và xã, phường, thị trấn có ma túy tăng, gây phức tạp tình hình an ninh trật tự. Hiện số xã, phường, thị trấn có ma túy là 106/144, tăng 9 xã so với năm 2014.

Thực hiện xã hội hóa công tác cai nghiện, một số mô hình cai nghiện tại gia đình, cộng đồng có triển khai nhưng chưa có hiệu quả, chưa có tổ chức, cá nhân tham gia công tác này. Hiện có 2 cơ sở điều trị cai nghiện cho 172 người bằng Methadone ở TP.Cao Lãnh và TP.Sa Đéc.

NT (Theo tiengchuong.vn)

Mở rộng tuyến, đối tượng trọng điểm về ma túy

Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất vừa ban hành kế hoạch đấu tranh, chống buôn bán và vận chuyển trái phép các chất ma túy và tiền chất ma túy qua cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, trong đó mở rộng tuyến, đối tượng trọng điểm.

Theo nhận định của Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, tình hình buôn bán và vận chuyển trái phép chất ma túy qua cửa khẩu sân bay quốc Tân Sơn Nhất vẫn còn phức tạp trên các tuyến trọng điểm từ TP.HCM đi các tuyến, như: Úc, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông… và các tuyến nhập khẩu được vận chuyển từ khu vực châu Phi quá cảnh qua khu vực Trung Đông vào Việt Nam.

Đặc biệt, các tổ chức tội phạm thông quan các đại lý vận tải giao nhận, lợi dụng các hình thức hoạt động du lịch, xuất nhập khẩu, gửi quà biếu để vận chuyển trái phép chất ma túy.

Từ thực tế trên, Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất đã xây dựng kế hoạch đấu tranh chống buôn bán và vận chuyển trái phép các chất ma túy năm 2015, với điểm nhấn mở rộng thêm các tuyến, đối tượng và hàng hóa trọng điểm.

Trong đó, đối với hàng hóa trọng điểm, Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất lưu ý 12 loại tiền chất, chất gây nghiện và chất hướng thần do Bộ Y tế cấp phép nhập khẩu; 10/32 loại tiền chất do Bộ Công Thương cấp phép. Ngoài ra, còn có các mặt hàng trọng điểm về đông dược, hóa chất mỹ phẩm, thức ăn đóng gói, khăn giấy ướt, hàng mậu dịch, hàng phia mậu dịch, hàng quá cảnh…

Được biết, năm 2014, Cục Hải quan TP.HCM bắt giữ 19 vụ vận chuyển ma túy và tiền chất với số tang vật là 62,74kg (tang vật thu giữ gồm: 10,28 kg Heroin, 13,93kg Cocaine, 38.53kg chứa pseudoephedrine (tiền chất sản xuất ma túy), 79.509 viên ma túy tổng hợp). Trong đó, hầu hết số vụ vận chuyển qua đường hàng không do Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất bắt giữ.

LV (theo phongchongmatuy.com.vn)

Xử lý hình sự 2 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy

Ngày 16/12, ngành chức năng huyện Cao Lãnh cho biết, đang xem xét xử hình sự đối với Phan Văn Em (SN 1979, ngụ xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh) và Nguyễn Thanh Hà (SN 1984, ngụ xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Theo kết quả điều tra, 14/3/2015, Phan Văn Em rủ Nguyễn Thanh Hà đi Tiền Giang mua ma túy về sử dụng.  Em điều khiển xe gắn máy chở Hà đến chợ Cổ Cò thuộc địa phận huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang gặp một người tên Thắng (không rõ địa chỉ) mua 23 tép heroin với số tiền 1.770.000 đồng.

Sau đó, cả hai sử dụng hết 2 tép, còn lại 21 tép heroin cất giấu. Khi Em và Hà điều khiển phương tiện tiện trở về đến địa phận khóm Mỹ Thới, thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh thì bị lực lượng Công an huyện Cao Lãnh bắt quả cùng tang vật.

Dũng Chinh

Chính sách hình sự đối với tội phạm ma túy qua các thời kỳ

Ma túy hủy hoại cuộc sống và cộng đồng, làm xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người và là nguồn phát sinh tội phạm. Các tội phạm về ma túy được Nhà nước ta quy định từ rất sớm, nhưng trong từng giai đoạn, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể mà Nhà nước ban hành những văn bản thích hợp, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Đạo luật đầu tiên về Cấm trồng cây thuốc phiện

Các loại cây có chất ma túy được du nhập vào Việt Nam đầu tiên là cây thuốc phiện. Cây này được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam vào những năm 1600. Ban đầu cây thuốc phiện được coi là một thứ hoả dược có thể chữa được một số loại bệnh như bệnh phong thấp, đường ruột, giảm đau. Nhưng sau đó, người ta cũng thấy tác hại to lớn của nó. Ở các thôn bản, nơi trồng nhiều cây thuốc phiện cũng là những nơi có nhiều người nghiện, hút thuốc phiện và từ đó đã hình thành những tư tưởng tiến bộ, lên án, đấu tranh với tệ nạn này.

Thời kỳ đầu xuất hiện những hương ước, quy chế ở các thôn bản về cấm sử dụng thuốc phiện, tuy nhiên hiệu lực của nó còn rất hạn chế, tình trạng trồng cây thuốc phiện và nghiện hút vẫn có chiều hướng lan tràn rất nhanh. Do đó, vào năm Cảnh trị thứ III (1665), Nhà nước phong kiến Việt Nam đã ban hành Đạo luật đầu tiên về Cấm trồng cây thuốc phiện. Đạo luật này nêu rõ: “Con trai, con gái dùng thuốc phiện để thỏa lòng dâm dật, trộm cướp dùng nó để nhòm ngó nhà người ta. Trong kinh thành, ngoài thì thôn xóm, vì nó mà có khi hoả hoạn, khánh kiệt tài sản. Vì nó mà thân tàn tạ, người chẳng ra người”. Đạo luật này còn quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện. Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi”.

Cũng như cây thuốc phiện, cây cần sa, cây coca đã có từ xa xưa trên thế giới, nhưng hai loại cây này du nhập vào trồng ở Việt Nam muộn hơn cây thuốc phiện. Cây cần sa được trồng ở các tỉnh miền Tây Nam bộ,  cây coca được trồng ở các tỉnh phía Nam. Vào đầu thế kỷ XIX, mặc dù bị cấm gắt gao nhưng do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh nha phiến giữa Trung Quốc và Anh nên tình trạng nghiện hút vẫn tăng nhanh. Chẳng những dân chúng mà đến cả bọn quan lại, người quyền quý cũng đua nhau hút thuốc phiện. Trước tình trạng ấy, chính quyền nhà Nguyễn đã ban hành các chính sách chống ma tuý, gồm các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất là, lấp nguồn, cạn dòng

+ Nguồn là nơi sản xuất thuốc phiện, “lấp nguồn” là xóa bỏ nơi trồng cây thuốc phiện. Luật quy định phải phá bỏ các khu vực trồng cây thuốc phiện. Kẻ nào mua bán thuốc phiện thì phải bị xử phạt 60 trượng, xử tù một năm, tịch thu toàn bộ vật chứng dùng trong buôn bán. Lái buôn nước ngoài buôn bán thuốc phiện bị đánh 100 trượng và tịch thu vật chứng.

+ Cạn dòng là giảm số người hút thuốc phiện. Luật quy định: chủ hàng, chủ chứa bàn đèn hút thuốc phiện bị phạt 100 trượng và tù ba năm. Người hút thuốc phiện bị phạt 100 trượng và tù ba năm. Cha, anh không ngăn giữ con em, bị phạt 100 trượng. Quan lại hút thuốc phiện bị đánh 100 trượng và bị cách chức. Các cơ quan hữu quan có trách nhiệm nghiên cứu các phương pháp trị liệu cho người nghiện hút. Ngoài ra, triều đình đã có lệnh cấm các thuyền buôn từ Tân Châu (Trung Quốc) vào Việt Nam và khám xét tất cả các thuyền buôn nước ngoài vào các cảng dọc bờ biển nước ta.

Thứ hai là, khen thưởng rất hậu cho người phát hiện hoặc cáo giác đúng. Như luật năm 1840 ghi: “Người nào phát hiện kẻ tàng trữ, buôn bán thuốc phiện dưới 1kg thì thưởng 100 quan tiền, trên 1kg thì thưởng 150 quan tiền, từ 3kg trở lên được thưởng thêm. Quan lại khám xét ra được thưởng số tiền tương đương một nửa vật chứng và được thăng một cấp”.

Thứ ba là, chú trọng biện pháp điều trị cho người nghiện hút. Triều đình có lệnh cho những người nghiện hút hạn trong 6 tháng phải ra khai báo và cai nghiện. Các quan địa phương phải chú ý giúp người nghiện hút tìm ra biện pháp, phương pháp cai nghiện có hiệu quả.

Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược

Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Pháp đã hợp pháp hoá việc buôn bán, sử dụng thuốc phiện ở nước ta coi đó là công cụ để cai trị nước ta cũng như tìm kiếm lợi nhuận một cách đơn giản, hiệu quả nhất. Để thực hiện chính sách ngu dân và vơ vét tài nguyên, tiền của ở Đông Dương, nhà cầm quyền Pháp cho công khai phát triển trồng cây thuốc phiện, thành lập các cửa hàng bán thuốc phiện tự do dưới sự quản lý của Công quản nha phiến. Diện tích trồng cây thuốc phiện tăng nhanh, tuy nhiên sản phẩm phải bán cho cơ quan quản lý. Người hút thuốc phiện được tự do. Vì vậy, việc trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện phát triển rất mạnh. Trình độ dân trí thấp, đời sống nhân dân nghèo đói nhưng tệ nạn nghiện hút lan tràn, phổ biến trong xã hội.

Ngày 28/12/1861, Tướng hải quân Pháp Bonnar đã ban hành văn bản gồm 84 điều quy định việc mua bán, sử dụng thuốc phiện tại Nam Kỳ (thuộc địa Pháp). Theo đó, chính quyền cho phép nhập khẩu thuốc phiện qua 2 cảng Sài Gòn và Chợ Lớn và thu thuế 10% giá trị lô hàng. Hàng năm chính quyền tổ chức đấu thầu việc nhập khẩu, mua bán thuốc phiện. Người trúng thầu sẽ được độc quyền nhập khẩu và tổ chức bán lẻ thuốc phiện (doanh số nhập khẩu thuốc phiện năm 1860 vào Nam kỳ lên tới 500.000 quan Pháp, chiếm 50% giá trị hàng nhập khẩu).

Trước tình hình Pháp hợp thức hoá việc kinh doanh thuốc phiện tại Nam kỳ, chính quyền phong kiến Việt nam cũng bãi bỏ các văn bản pháp luật về thuốc phiện của vua Minh Mạng. Năm 1863, trong Quốc triều chinh biến, vua Tự Đức quy định: “Nay thôi cấm mà đánh thuế thật nặng để người bán ít đi, từ đó người hút ít theo”. Chỉ sau 10 năm kể từ khi vua Minh Mạng qua đời tệ nạn nghiện hút thuốc phiện ở Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ.

Tháng 6/1873, trước tình hình tệ nạn thuốc phiện ngày càng nghiêm trọng, nhà nước phong kiến Việt Nam lại ban hành trở lại lệnh “cấm nha phiến”. Khi đó vua Tự Đức quy định: “Hễ cử nhân, tú tài, học trò nghiện thuốc phiện thì cho thời hạn 1 năm phải chữa xong. Ai không tuân thì tước tịch, bắt chịu sưu thuế; học trò không được thi khoá nữa”. Nhưng những biện pháp này đã không mang lại hiệu quả mong muốn.

Đây là một giai đoạn mà sự lan tràn tệ nạn ma tuý diễn ra công khai, trầm trọng, đã để lại cho dân tộc ta hậu quả nặng nề mà ngày nay chúng ta đang phải kiên quyết loại bỏ.

Vào đầu năm 1952, Chính phủ chỉ quy định việc xử lý đối với hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện, quy định khoanh vùng trồng cây thuốc phiện, người trồng cây thuốc phiện có nghĩa vụ nộp thuế bằng 1/3 số thuốc phiện nhựa, phần còn lại phải bán cho mậu dịc quốc doanh; nghiêm cấm việc tàng trữ vận chuyển nhựa thuốc phiện. Đến cuối năm 1952, Chính phủ quy định người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện, bị tịch thu thuốc phiện, bị phạt tiền đến năm lần giá trị thuốc phiện hoặc bị truy tố trước Tòa án.

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ngày 15/9/1955 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 580-TTg quy định cụ thể những trường hợp phải đưa ra truy tố trước Tòa án như: Buôn lậu thuốc phiện có nhiều người tham gia, có thủ đoạn gian dối; trị giá hàng phạm pháp trên 1 triệu đồng; người buôn bán thuốc phiện nhỏ hoặc làm môi giới có tính chất thường xuyên, chuyên nghiệp sau khi đã bị phạt tiền nhiều lần mà còn vi phạm; hành vi vi phạm có liên quan đến nhân viên chính quyền hoặc bộ đội; đã có quyết định phạt tiền của cơ quan Thuế vụ hoặc Hải quan. Để cụ thể hóa đường lối xét xử đối với hành vi phạm tội về thuốc phiện, ngày 29/3/1958 và ngày 7/5/1958, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 635-VHH/HS và Thông tư số 33-VHH/HS hướng dẫn đường lối truy tố, xét xử những hành vi buôn lậu thuốc phiện.

Sau khi đất nước thống nhất, ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 76-CP về chống buôn lậu thuốc phiện; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn áp dụng pháp luật khi điều tra, truy tố, xét xử tội phạm nói chung và tội phạm buôn lậu thuốc phiện nói riêng.

Đến năm 1980, tình hình tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng ma túy ở nước ta có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tình trạng mua bán, vận chuyển không chỉ có thuốc phiện mà còn là các chất ma túy khác qua biên giới vào nước ta và từ nước ta đi một số nước trên thế giới, do ảnh hưởng của các nước khu vực và các nước có đường biên giới cùng với nước ta. Trước tình hình như vậy, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII đã thông qua BLHS năm 1985. Đây là Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta quy định về tội phạm và hình phạt. Tuy nhiên, khi ban hành BLHS năm 1985 mới chỉ có một điều quy định tội phạm về ma túy (Điều 203-Tội tổ chức sử dụng chất ma túy) và hai điều có liên quan đến ma túy (Điều 97-Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới và Điều 166-Tội buôn bán hàng cấm). Nếu hành vi buôn bán ma túy trong nước thì bị áp dụng Điều 166 BLHS, còn nếu buôn bán vận chuyển ma túy qua biên giới thì bí áp dụng Điều 97 BLHS. Còn lại các hành vi khác như tàng trữ, chiếm đoạt, sản xuất, sử dụng, vận chuyển trong nước đối với các chất ma túy chưa bị coi là tội phạm.

Do tình hình buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy ngày càng gia tăng và diễn biến rất phức tạp, nếu chỉ áp dụng Điều 97 và 166 BLHS để xử lý các hành vi phạm tội về ma túy thì không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này, nên ngày 28/12/1989 Quốc hội đã bổ sung Điều 96a quy định tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Sau khi BLHS được sửa đổi bổ sung, tình hình phạm tội về ma túy vẫn không giảm mà càng gia tăng và diễn biến vô cùng phức tạp, quy định tại Điều 96a cũng không thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn xử lý hành vi có liên quan đến ma túy nhưng cũng không thể ngăn chặn được tệ nạn này. Ngày 10/5/1997, một lần nữa Quốc hội lại sửa đổi bổ sung BLHS quy định hẳn một chương (Chương VIIA) gồm 14 điều quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội mà thực tiễn đấu tranh đặt ra.

Từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ đã có nhiều văn bản pháp luật để đấu tranh ngăn chặn ma tuý, như Sắc luật 03 và quy định trong BLHS năm 1985. Để làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tội phạm về ma túy thì vấn đề rất quan trọng là phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ, tạo hành lang pháp lý để các cơ quan bảo vệ pháp luật hoạt động có hiệu quả cao, phát hiện và xử lý nghiêm khắc tội phạm. Ba công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy đã ban hành khá lâu, đựơc hơn 100 nước trên thế giới phê chuẩn nhưng đến ngày 01 tháng 9 năm 1997 Việt Nam mới tham gia. Chính sách hình sự của Nhà nước ta về tội phạm ma túy thời gian trước đây có phần chậm đổi mới.

Ngày 12/8/1991, BLHS được sửa đổi, bổ sung Điều 96a, tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy và quy định mức hình phạt nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp và tăng nhanh, gây ra hậu quả rất nặng nề cho xã hội.

Vì vậy, đấu tranh ngăn chặn ma tuý đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992. Điều 61 của Hiến pháp quy định nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm khác.

Cụ thể hoá những tư tưởng trong Hiến pháp năm 1992, Đảng và Nhà nước ta đã đổi mới chính sách hình sự đối với tội phạm về ma túy. Thể hiện trước tiên, năm 1997, Nhà nước đã tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS, trong đó tội phạm về ma túy được quy định thành một chương riêng,  Chương VIIA gồm 14 điều có 13 tội cụ thể. Chính sách hình sự mới thể hiện thái độ kiên quyết trừng trị nghiêm khắc các tội phạm về ma túy. Song, hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh đã gây khó khăn cho thực tiễn phòng, chống ma túy, do vậy việc sửa đổi BLHS năm 1985 chỉ là biện pháp tình thế.

Bộ Luật Hình sự năm 1999

Tình hình kinh tế, xã hội và thực tiễn đấu tranh chống tội phạm đã có nhiều biến đổi, đòi hỏi BLHS phải được sửa đổi toàn diện. Do đó, ngày 21 tháng 12 năm 1999 BLHS mới được Quốc hội thông qua (gọi tắt là BLHS năm 1999), trong đó có chương XVIII quy định các tội phạm về ma túy gồm 10 điều luật được quy định và bổ sung một số tội danh mới như: 

Điều 192. Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây  khác có chứa chất  ma  túy. 

Điều 193. Tội sản xuất trái phép chất ma túy.

Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy. 

Điều 195. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. 

Điều 196. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán các phương tiện,  dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

Điều 197. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. 

Điều 198. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. 

Điều 199. Tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Điều 200. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Điều 201. Tội vi phạm quy định về quản lý,  sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác. 

BLHS còn định lượng các chất ma tuý trong từng khung hình phạt, tăng nặng mức hình phạt, nâng cao hình phạt tiền và tịch thu tài sản, thêm một số hình phạt bổ sung khác, đó là những điểm mới quan trọng nhất trong chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam về tội phạm ma tuý. Để hoàn thiện thêm hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy, ngày 9/12/2000, kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Phòng, chống ma túy. 

“Phi hình sự hóa” đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999. Việc ban hành luật này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình từng bước hoàn thiện pháp luật hình sự của Nhà nước ta, góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của BLHS, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra và bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Luật sửa đổi, bổ sung BLHS đã thể chế hóa chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước; hình sự hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội đòi hỏi phải xử lý về hình sự mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế, nhất là các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chứng khoán, tài chính - kế toán, sở hữu trí tuệ trong hợp tác quốc tế về chống khủng bố, chống mua bán phụ nữ, trẻ em…; phi hình sự hóa một số hành vi bị coi là tội phạm trong BLHS năm 1999 nay không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Theo đó, bỏ hình phạt tử hình ở 8 điều luật trong đó có Khoản 4 Điều 197 (Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) BLHS năm 1999 quy định người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác. Theo Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS, người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.

Khoản 3 điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS nhà làm luật đã phi hình sự hóa (hoàn toàn) 4 tội danh trong BLHS, trong đó có tội sử dụng trái phép chất ma túy. Việc bãi bỏ điều luật này, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự nhưng cũng xác định rõ trong thời gian qua các hành vi nêu trên không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Việc bỏ tội sử dụng trái phép chất ma túy là xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian qua cho thấy hiệu quả răn đe, phòng ngừa chung của việc xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm này không cao. Hiệu quả giáo dục, cải tạo, phục hồi đối với người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy là rất hạn chế. Mặt khác, người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy trong thực tế rất nhiều, không có khả năng xử lý bằng hình sự hết được, xảy ra tình trạng không công bằng của pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng dưới góc độ xã hội thì người nghiện ma túy được coi là nạn nhân của một tệ nạn.

Hơn nữa, việc không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm không có nghĩa là dung túng đối với hành vi này mà cần có biện pháp xử lý hiệu quả, bền vững hơn như biện pháp bắt buộc chữa bệnh, nâng cao các biện pháp điều trị y tế kết hợp với lao động, giáo dục tại gia đình và cộng đồng. Trường hợp người nghiện ma túy mà có hành vi phạm tội thì sẽ bị xử lý hình sự theo các tội danh tương ứng của BLHS. Bên cạnh đó, tham khảo pháp luật nước ngoài cho thấy pháp luật hình sự nhiều nước trên thế giới không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm.

Bỏ hình phạt tử hình với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy

Vừa qua, ngày 27/11, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự 2015. Theo giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (TVQH), đa số ĐBQH cho rằng, trong điều kiện hiện nay, việc giảm hình phạt tử hình là cần thiết. Theo đó, 7 tội danh có hình phạt tử hình đã được bỏ trong Bộ luật hình sự 2015, đó là: Tội cướp tài sản; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Tội chống mệnh lệnh; Tội đầu hàng địch.

Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đã tách Điều 194 BLHS năm 1999 thành 4 tội danh độc lập: tội tàng trữ, tội vận chuyển, tội mua bán trái phép và tội chiếm đoạt chất ma túy. Đồng thời chỉ giữ lại hình phạt tử hình đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, các tội danh khác thì mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Tuy nhiên khi Bộ Luật Hình sự được thông qua, chỉ có 2 tội danh về ma túy được bỏ hình phạt tử hình là Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội chiếm đoạt chất ma túy. Việc không bỏ hình phạt tử hình đối với tội vận chuyển trái phép chất ma tuý được nhiều đại biểu Quốc hội đồng tình.

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy cho thấy, tình hình tội phạm, tệ nạn ma túy trên thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Tính đến nay, vẫn còn hơn 200 triệu người nghiện các chất ma túy.

Trong những năm gần đây tình hình tội phạm ma túy ở nước ta chủ yếu là mua, bán, vận chuyển trái phép chất ma túy diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng, dẫn đến tình trạng nghiện ma túy, nguy cơ các tội phạm khác, làm mất trật tự trị an. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu 2015, các lực lượng chức năng đã phát hiện, điều tra, xử lý 10.915 vụ phạm tội về ma túy với 13.800 bị can, với số lượng heroin thu giữ tăng 91,75% và số lượng ma túy tổng hợp thu giữ tăng 122% so với cùng kỳ năm 2014.

Trong thực tiễn có khoảng 60% số vụ ma tuý được phát hiện, xử lý với số ma tuý vận chuyển rất lớn. Do nhiều nguyên nhân không thể kiểm tra, kết luận hành vi buôn bán nên phải truy tố với tội danh vận chuyển. Hầu như các đối tượng bị bắt xác nhận họ chỉ là người vận chuyển thuê. Hiện tội phạm vận chuyển ma tuý qua biên giới ngày càng phức tạp, đã hình thành các tổ chức chuyên vận chuyển ma tuý, các nhóm từ 10 - 20 người, có vũ trang, hoạt động liên tục, vận chuyển khối ma tuý rất lớn vào nội địa.

Vì vậy, việc không bỏ hình phạt tử hình đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo răn đe tội phạm, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay.

Bài viết tham khảo nguồn tư liệu của Tòa án nhân dân TPHCM, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Bộ Công an).

HT (theo tiengchuong.vn)